Cập nhật lúc 09:51:02 26/05/2020 (Lượt xem: 3182)
Góp ý vào dự thảo luật hòa giải

Góp ý vào dự thảo luật hòa giải đối thoại tại tòa

BTO- Trong khuôn khổ kỳ họp thứ 9-Quốc hội khóa XIV, bà Nguyễn Thị Phúc-Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Bình Thuận đã phát biểu góp ý dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa sáng 25/5. 

Bà Nguyễn Thị Phúc.

Về giải thích từ ngữ: Điều 2

Khoản 4 dự thảo luật có nêu: Hòa giải thành là thông qua hòa giải, các bên tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ vụ việc dân sự.

Khoản 5: Đối thoại thành là thông qua đối thoại, các bên tự nguyện thống nhất về việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ khiếu kiện hành chính.

Và tại khoản 1, điều 27 dự thảo luật cũng nêu: khi các bên đạt được sự thỏa thuận, thống nhất  một phần vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính thì hòa giải viên ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại để làm căn cứ ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành.

Với các qui định trên thì được hiểu chỉ cần các bên thỏa thuận, thống nhất 1 phần vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính là thuộc trường hợp hòa giải thành, đối thoại thành.

Tuy nhiên, ở khoản 2 điều 40 dự thảo luật lại có qui định: Được coi là hòa giải không thành, đối thoại không thành trong các trường hợp sau:

a.      Không đạt được thỏa thuận, thống nhất về toàn bộ nội dung tranh chấp, khiếu kiện;

b.     Chỉ thỏa thuận, thống nhất được 1 phần tranh chấp, khiếu kiện nhưng phần đó có liên quan đến những phần tranh chấp, khiếu kiện khác.

Với qui định tại điều 40 như trên, theo tôi được phép hiểu: Hòa giải thành, đối thoại thành là phải thỏa thuận, thống nhất toàn bộ nội dung tranh chấp, khiếu kiện.

Như vậy qui định tại điều 2, điều 27 và điều 40 nêu trên là không thống nhất về nội dung và từ ngữ, dễ gây nhầm lẫn khi áp dụng. Để phù hợp với Bộ luật tố tụng dân sự và luật tố tụng hành chính, tôi đề nghị chỉnh lại dự thảo luật theo hướng qui định: Hòa giải thành, đối thoại thành khi các bên thỏa thuận, thống nhất toàn bộ nội dung tranh chấp, khiếu kiện.

Về trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong hoạt động hòa giải, đối thoại:

Tại điểm a, khoản 2, điều 7 qui định: Tòa án nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: Tổ chức thực hiện hoạt động hòa giải, đối thoại theo qui định của luật này.

Tuy nhiên, dự thảo luật chưa qui định việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm hòa giải viên ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Cụ thể: Điểm b, khoản 2 chỉ quy định: Tòa án nhân dân cấp tỉnh: bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm hòa giải viên theo đề nghị  của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Tôi đề nghị: Thay cụm từ: Theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện bằng cụm từ: Theo đề nghị của Tòa án nhân dân 2 cấp thuộc tỉnh.

Về quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên: Tôi thống nhất với ý kiến Hòa giải viên không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả hòa giải thành, đối thoại thành, vì đây là ý chí tự nguyện của các bên đương sự.

Tuy nhiên, theo dự thảo luật hòa giải viên là 1 chức danh được bổ nhiệm và hưởng thù lao của Nhà nước. Theo quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 điều 14 dự thảo luật, trước khi tiến hành hòa giải, hòa giải viên có quyền “xem xét hiện trạng tài sản liên quan đến tranh chấp, khiếu kiện”, “mời người có uy tín tham gia hòa giải, đối thoại; tham khảo ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn về lĩnh vực tranh chấp, khiếu kiện”… những tài liệu, chứng cứ này do hòa giải viên thu thập là một trong những căn cứ để Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành.

Vì vậy, để đảm bảo tính đúng đắn, hiệu lực của kết quả hòa giải thành, đối thoại thành; đảm bảo quyền lợi của đương sự và nâng cao trách nhiệm của hòa giải viên, tôi đề nghị bổ sung nghĩa vụ của hòa giải viên là: “hòa giải viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực, đúng đắn tài liệu, chứng cứ do Hòa giải viên thu thập làm căn cứ ra quyết định hòa giải thành, đối thoại thành”.

Về điều 19, những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại:

Điều 206, Bộ luật tố tụng dân sự có qui định: những vụ án Dân sự không được hòa giải là những vụ án yêu cầu bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước và những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội. Đây là qui định của luật cấm hòa giải trong những vụ án trên.

Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự và điều 135 luật tố tụng hành chính qui định: những vụ án không tiến hành hòa giải (đối thoại) được. Đây là trường hợp không tiến hành hòa giải được do trở ngại từ phía các bên đương sự.

Hai qui định “không được hòa giải” và “không tiến hành hòa giải được” là không đồng nhất và có hậu quả pháp lý khác nhau.

Để thống nhất giữa các luật, bộ luật, đề nghị tách điều 19 thành 2 điều như bố cục của điều 206 và 207 Bộ luật tố tụng dân sự và điều 135 luật tố tụng hành chính.

Bố cục như vậy sẽ phù hợp với qui định tại khoản 4 điều 40 có đề cập đến khái niệm “không được hòa giải (dự thảo luật không có qui định về “không được hòa giải” nên khoản 4 điều 40 sẽ gặp vướng mắc khi thi hành.

Ngoài ra, tại khoản 5, điều 40 đề nghị thêm cụm từ “theo qui định của bộ luật tố tụng dân sự và luật tố tụng hành chính” vào sau cụm từ “áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để điều luật đầy đủ và chặt chẽ.

Nguyễn Thị Phúc