Cập nhật lúc 11:07:07 23/11/2019 (Lượt xem: 7654)
Chồng đứng tên căn nhà

Chồng đứng tên căn nhà, khi ly hôn, tôi có được chia tài sản?

 BTO- Tôi và chồng tôi đã có quyết định của tòa án cho ly hôn. Tuy nhiên, khi ly hôn thì tài sản chung chưa chia. Nay chồng tôi tiếp tục nộp đơn yêu cầu chia tài sản chung nhưng đối với căn nhà đang ở thì ông ấy ghi trong đơn là tài sản riêng của ông ấy do cha mẹ ông cho riêng và đề nghị không chia. Hiện nay ông đang đứng tên căn nhà. Vậy, khi ra tòa, tôi có được chia tài sản là ngôi nhà đó không?

 Nguyenthanhtram <Nguyenthanhtram@gmail.com>

Trả lời:

Việc bạn có được chia tài sản là căn nhà hay không phụ thuộc vào việc xác định tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng.

Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng được pháp luật hôn nhân và gia đình quy định như sau:

Tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản riêng của vợ chồng như sau:

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.

Tại khoản 4, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

“4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”.

Như vậy, trong trường hợp căn nhà là tài sản của cha mẹ chồng tặng cho chồng bạn do chồng bạn đang đứng tên quyền sở hữu căn nhà thì được xác định là tài sản riêng của chồng bạn và căn nhà trên cũng chưa được nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì bạn sẽ không được chia tài sản đối với căn nhà đã nêu trên.

Luật sư Đỗ Minh Trúc - Trưởng VPLS Phan Thiết - Đoàn luật sư tỉnh Bình Thuận.

Mọi vấn đề liên quan đến Pháp luật, mời bạn đọc gởi câu hỏi đến địa chỉ mail: baobinhthuan@gmail.com.

Báo Bình Thuận Online sẽ có luật sư tư vấn giúp bạn.